banner

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

ACONIT NAPEL

Aconitum napellus L.

Ranunculaceae

Aconitum

Đại cương :
Aconit napel, là một cây mọc nhiều ở vùng núi trong dãy Pyrénées. Cây cho hoa màu xanh tím, với hình dáng chiếc mũ an toàn, thành chùm.
Toàn cây được thu hoặch sau thời trổ hoa và được điều chế thành dung dịch hòa alcool ( teinture mère ).

Thực vật và môi trường :
Nguồn gốc : Âu Châu, Miền Bắc châu á, thường trong rừng trong đồng cỏ ẩm ướt, nhất là ở vùng núi độ cao trên 1800 m.
Mô tả Thực vật :
- Thân thảo lớn cao 1 – 2 m
- Lá xẻ sâu
- Hoa hình tròn úp giống như nón bảo hiểm, màu xanh đậm, hợp lại thành chùm rậm ở ngọn thân.
- Tăng trưởng bởi củ (tubercules) giống như củ cải trắng.
Nơi và trồng trọt : : Cây đa niên, lá xẻ thành thùy, xanh lá cây đậm và thân dài mang những chùm hoa màu tím violettes hay xanh dương ( 1,5 m chiều cao ).
Trồng làm cây cảnh. Đào lấy củ vào mùa thu.

Phần sử dụng :
- Rể, ít khi dùng lá

Thành phần được chất :
- Alcaloïdes diterpéniques :
- Aconitine - Ipaconitine - Mésaconitine - Néoline - Néopalline
- 0,3 à 2% esters d’alcaloïdes terpéniques, thành phần chánh là aconitine.

Đặc tính trị liệu :
- Aconitine : Chất độc cực mạnh (Hypertoxique) nhưng tác dụng chống viêm với liều cực nhỏ
Dung dịch pha loảng :
- Tê không cảm giác (Analgésiques)
- Chống chứng đau dây thần kinh (Antinévralgiques)
- Dịu đau trấn thống (Sédatives)
- Kích thích hệ hô hấp .

Úng dụng :
( Trên lý thuyết ứng dụng trên phải cẩn và những thuốc phải được bào chế tinh luyện với thành phần vi lượng thích hợp tránh tai nạn có thể xảy ra )
Cây độc (toxique), trừ trường hợp dùng với lượng ít,
Cây aconit ít khi có quy định trường hợp dùng trong nội tạng. Thông thuờng người ta xữ dụng trên da để giảm vết bầm.
Ở y học cổ truyền Ấn Độ, người dự trù trường hợp viêm thần kinh mặt, suyển và suy tim ( tim hoạt động yếu, cảm cúm, khàn giọng khan tiếng, viêm khí quản và dịu đau trấn thống .
Ở vi lượng đồng căn liệu pháp : Người ta dùng để an thần, dịu đau.
- Trị đau dây thần kinh mặt ( trijumeau)
- Hạ sốt trường hợp cảm cúm. Khan cổ, khan tiếng, viêm cổ,
- Viêm thanh quản,
- Ho khó thở ( toux spastique trẻ em dưới 2 năm ).

Hiệu quả xấu và rủi ro :
Toxique người ta biết từ thời cổ
* Rất độc, chỉ dùng với sự kiểm tra y học
• Chất độc chánh : alcaloïdes terpenoïdes, napeline, napelonine, aconine, aconitine. (1 miligramme d’aconitine đủ để chết một người ).
Rể cây aconit chứa nhiều những chất toxine, nhất là thời kỳ phát hoa .
Theo phương pháp « vi lượng đồng căn liệu pháp » cây aconitum napellus là nguồn gốc của triệu chứng :
- Trong trường hợp sốt đột ngột kèm với : nhịp tim tăng, cơn khát với lượng nước nhỏ, lo lắng và bồn chồn.
- Trường hợp say nắng hay bị đột quị bởi nhiệt độ, kèm da nổi đỏ và khô.
- Trường hợp đau một dây thần kinh, trầm trọng thêm bởi nhiệt độ lạnh kèm theo tê cóng và ngứa ngái.
- trường hợp chảy máu cam.
- Trường hợp rối loạn hệ tim mạch : huyết áp cao, tăng nhịp đập tim, mặt đỏ. Cá nhân lo lắng, kích động và lo sợ chết.
- Trường hợp mất ngủ với thức giấc nửa đêm và khoảng 1 giờ sáng. Cá nhân thức với sự lo lắng và một cảm giác nóng trong cơ thể ( không mồ hôi ).
- Trường hợp ngừng đột ngột kinh nguyệt tiếp theo sợ sệt và cảm lạnh.
Hiện tượng nhiễm độc : Với những nguồn gốc sự chỉ định trên nên :
Aconit napel là một cây thuộc họ Renonculaceae, có chứa một alcaloïde độc : aconitine.
Sự ngộ độc aconitine xảy ra rất nhanh, cấp tính và ác tính. Những triệu chứng như :

- Huyết áp cao
- Những đóm đỏ ở mặt.
- Xuất huyết có thể với máu đỏ tươi và nóng.
- Sốt.
- Lo lắng, bất an bồn chồn và sợ sệt.
- Đau dây thần kinh.

Đây là vấn đề nhạy cãm, là một đề tài nóng bỏng và mạnh mẽ. Người mới bịnh, đột nhiên bệnh tiếp theo, nhất là sự thay đổi trạng thái đột ngột và mạnh mẽ.

- hoặc lạnh buốt và đột ngột như là một cơn gió lạnh khô ( Mistral, gió Bắc ) hay tắm lạnh đột ngột.
- hoặc tiếp xúc với sức nóng thật nóng : như cảm nhiệt, say nắng trong mùa hè nóng bỏng.

Những triệu chứng như

- Thân nhiệt tăng cao bất thường thường bắt đầu bởi sự ớn lạnh rét.
- Da đỏ khô, không đổ mồ hôi.
- Rất khát nước, uống nhiều với số lượng lớn.
- Tinh thần căng thẳng, bồn chồn sợ chết.

Thu hoạch :
Tất cả các phần của cây đều chứa những alcaloïdes, đặc biệt độc. Aconit nằm trong nhóm cây độc hiếm. Như vậy, nếu tháng 6 đến tháng 7 chúng ta gặp hoa đẹp Aconit, chúng ta nên để chúng làm kiểng cảnh quan thì tốt hơn.

Nguyễn thanh Vân