Article Index

   KÝ ỨC SƠ SÀI

   KỲ MƯỜI BẢY

Đọc những tranh luận đủ khuynh hướng trên mạng về cái chết của Gaddafi mới thấy nhân vật nầy gây chú ý nhiều trong dư luận hơn người ta tưởng.

Mà cũng chẳng ngạc nhiên gì. Những năm tôi còn ở đại học, Mubarak, Gaddafi lên cầm quyền sau những cuộc lật đổ vô cùng ngoạn mục bọn vua chúa tham tàn, đã tận hưởng lạc thú đế vương đời đời kiếp kiếp trên những mỏ dầu châu báu và trên sự thống khổ của nhân dân. Những tuyên ngôn đầy nhiệt huyết và thiện chí của các tướng tá trẻ gieo niềm hy vọng lớn nơi đám thanh niên e ngại chế độ CS vì trực giác con đường này lắm chông gai và cạm bẫy. Không phải chỉ bọn trẻ chúng tôi tin, nhiều tác giả danh tiếng trên báo chí thế giới cũng lạc quan tin tưởng, không tiếc lời ca ngợi với giọng vô cùng hoan hỉ. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết một bài đầy phấn khích về Gaddafi trên tờ Bách Khoa. Bài báo thuật lại tuyên bố lẫy lừng của ông ta: Bao giờ toàn dân Lybia có nhà ở rồi thì cha tôi mới có nhà. Mà thật. Mấy năm đầu, ông đưa ra thi hành những cải cách ngoạn mục về an sinh xã hội, về giáo dục, y tế…khiến thiên hạ ngạc nhiên cảm phục và không khỏi mừng cho dân tộc Lybia phước đức vừa trải qua cuộc cách mạng thay đổi tận gốc rễ tương đối nhẹ nhàng, ít hao tốn máu xương, không đến nỗi phải đốt cháy cả dãy Trường sơn chẳng hạn... Chúng tôi ngưỡng mộ ông cũng như lúc bấy giờ cảm phục các nhà trí thức, linh mục, thượng tọa…xứ sở mình lìa bỏ lợi danh nơi thị thành hoa lệ vào bưng biền theo MTGPMN. Vài năm sau, thiên hạ yên tâm theo dõi những biến cố chính trị dồn dập khác trên thế giới, không rõ cuộc cách mạng nhà binh đi tới đâu và viên đại tá đầy cá tính xứ Bắc Phi đó đã xây được bao nhiêu nhà cho dân, bao nhiêu nhà thương thí cho kẻ nghèo…Thế rồi chẳng mấy lâu sau, người ta ái ngại vì nghe toàn tin tức không mấy tốt lành, cách trị dân không khác gì, có khi còn nghiệt ngã hơn bọn quý tộc phong kiến. Lòng tin vơi cạn dần cho tới lúc xảy ra vụ đánh bom máy bay dân dụng trên không phận Ái Nhĩ Lan thì lòi ra viên sĩ quan này chỉ là tay quân phiệt kiêm trùm khủng bố, cai trị Lybia ngày càng bạo liệt toàn bằng biện pháp hạ sách, mị dân. Tất cả tuyên ngôn, tuyên bố nức lòng người ngày trước nay chỉ là khẩu hiệu. Rõ ràng, đâu có lâu la gì, các giếng dầu tốt nhất thế giới của Lybia đã lại trở nên tài sản riêng của gia đình dòng họ và đám bộ hạ đầu trộm đuôi cướp quanh ông.

Không ai ngờ được mọi chuyện trở nên tệ hại dễ dàng như vậy. Nhất định lúc đầu ông phải tin vào ước vọng và lời hứa của chính mình, không thể nào ông nói dối và gạt dân chỉ vì tham vọng của cải và quyền hành, bởi lẽ ông đã khởi sự đầy hảo ý. Phải chăng ma quỷ xui khiến ông hay sự yếu đuối của tinh thần con người trước vật chất xa hoa cùng những cám dỗ của quyền lực vô biên khiến ông ngày càng lộ rõ chỉ là tên bạo chúa tham tàn ham giết chóc. Ông ăn mặc đồng bóng như kẻ tâm thần phân liệt, những ngày cuối của bi kịch lãnh đạo, ông tin tưởng vu vơ nông nổi, tuyên bố nhảm nhí trong bấn loạn, cử chỉ lố bịch kệch cỡm y chang Saddam Hussein, để rồi màn chót giống hệt nhau, chạy trốn như chuột chui xuống cống, chết trong nhục nhã ê chề. Nhà thơ Thiếu Khanh có nói với tôi rằng thần dân các nước bị cai trị độc đoán nên rút kinh nghiệm qua chuyện này, để ý lấp bớt các lỗ cống không cần thiết hầu đỡ mất công trò săn đuổi trốn kiếm về sau!

Hồi trẻ, tôi không thích ý kiến của Will Durant (hay Toynbee?) có bảo rằng, xem ra, các cuộc cách mạng hầu hết có hại cho nhân loại vì sự tàn phá mù lòa và cuồng loạn không thể kiểm soát khiến các nền văn minh không bị phá hủy thì cũng chựng lại. (Chẳng hạn, như học giả Nguyễn Hiến Lê nói, văn minh Trung Hoa phải mấy ngàn năm xây dựng lao khổ, chỉ vài năm cách mạng văn hóa thời Mao là tiêu tan sạch bách- tương tự như một thời, đình chùa Bắc Việt trở thành kho chứa thóc của hợp tác xã). Nói gì thì nói, thế hệ tôi, người có thiện chí vẫn tin phải có cách mạng để làm lại đất nước. Đọc cuốn Guồng Máy của Jean Paul Sartre do Trần Phong Giao dịch, hay thì hay thật nhưng tôi cũng không thích ý tưởng cho rằng bọn cầm quyền nào cũng chỉ được lúc đầu thôi, chẳng phải đợi lâu, có khi ngay sau đó, quyền và tiền làm hư họ chóng vánh, họ chỉ biết có mỗi cách “lãnh đạo” là đàn áp kịch liệt. Buồn thay, hình như hiếm có phương cách nào khác thỏa mãn dục vọng người ta dễ dàng, đơn giản cho bằng trấn áp. Kẻ đến sau có khi tệ hơn bọn cầm quyền trước đó. Tôi không mấy thích ý này vì đang cảm phục Gaddafi, Mubarak; đầy thiện cảm với MTDTGP, cũng còn vì “tâm đắc” những phân tích độc đáo của Marx được giảng giải trong sách vở của thầy Nguyễn vănTrung, Trần văn Toàn, dường như cả linh mục Thanh Lãng cũng không tỏ chút ghét bỏ nàò khi đề cập tới phong trào CS. Như vậy thì các thầy nổi tiếng nhất ở Đại Học Văn Khoa đều tả khuynh hết còn gì! Mấy chương sách hấp dẫn nhất là vấn đề bóc lột nhân công, giá trị thặng dư... nhất là chỗ giá trị thặng dư này, vô phương bác bỏ vì lý lẽ thâm sâu, tình cảm nhân hậu quá chừng đỗi! Lại nữa, sống giữa miền Nam hỗn quân hỗn quan mà đọc cuốn “Hai Mươi Năm Xây Dựng CNXH Miền Bắc” nói toàn chuyện tốt đẹp của linh mục Trương Bá Cần (Hai mươi năm mà giá gạo chỉ ở mức mấy hào một ký chẳng hạn, nay có dư luận lúc đó ông đã là đảng viên CS!) được phát hành công khai, mua đâu cũng có thì hỏi với tuổi đôi mươi non xợt cùng trí khôn dưới trung bình như tôi, làm sao mà không ngưỡng mộ Marx, không thích Mặt Trận được. ( Khi tuổi đời chồng chất, tôi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là kẻ ngu phu, Bill Gates và một trăm nhà tư bản giàu có khác nhờ cái đầu siêu phàm, đâu phải tại giá trị thặng dư! Cũng như ông tôi khá giả hơn đám nông dân cùng làng nhờ ông làm ruộng giỏi hơn, nhận định thời tiết chính xác hơn và biết để dành hơn chớ lấy quyền gì mà bóc lột ai để làm giàu. Nói thế mấy “đại gia” ở VN hiện nay chẳng nên vội lạc quan mừng tưởng mình cũng thuộc loại...cái đầu có cỡ chớ không phải tại dựa hơi, mua quyền bán chức cùng buôn lậu, phá rừng các thứ).

Chao ôi, Gần nửa thế kỷ giữ chặt quyền lực với lợi lộc bất tận, lúc thế hệ chúng tôi gần xuống lỗ mới thẫn thờ nhận biết họ là ai. Tất cả bày ra cảnh tượng “Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui”.* Làm gì có cái gọi là cách mạng. Và cuộc cách mạng nào sau lúc khởi hành, đi lòng vòng tốn hao giờ giấc, sớm muộn gì rồi cũng quay về đường cũ. Nói cho cùng, thật không có lý do để nghi ngờ thiện chí của các lãnh tụ cách mạng trong buổi đầu khởi xướng. Chẳng qua họ mất tinh thần một cách đáng kinh ngạc trước vật chất nên phải điên cuồng dùng quyền lực cách mù quáng để chiếm đoạt. Đâu rồi bệnh viện miễn phí, đâu rồi nhà cửa gratuite của dân Ai Cập, Lybia? Rồi “…ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành”. Nhưng bao giờ thì học trò cấp một khỏi phải đóng cả chục thứ phí tiền mặt, mỗi môn học phải mua và khòm lưng mang vài ba thứ sách ăn theo biên soạn vô bổ nhảm nhí. Mọi việc tiến tới một cách tự nhiên theo chiều ngược lại lời hứa nguyện, lặng im thở dài mà chấp nhận, như câu chuyện nhỏ sau đây. Cháu nội gái tôi chạy chơi trên sân trường vấp bể chậu cây cảnh, ba mẹ nó bị gọi vào đóng tiền đền, không nghe nói gì chân cháu bị đổ máu sưng vù mà phải hiểu sân dùng để bày chậu bông, không được chạy giỡn. Trẻ con khó ngồi yên, sân trường bằng cái mũi, giờ chơi không có chỗ chạy, chúng bày trò ném cầu nhẹ bằng lông gà, bà hiệu trưởng tình cờ đi qua, rủi bị ném trúng, tức thì ra thông báo cấm học sinh ném cầu. Trẻ thơ con cháu chúng ta được quý yêu như thế đó. Tất nhiên không kẻ cầm quyền nào “chỉ đạo” kiểu vậy nhưng nội cái việc mặc kệ bọn cấp dưới dốt nát muốn làm gì tùy ý thích thì không phải là tội lỗi sao? Tôi không khỏi thấy mình nhảm nhí cứ lẩn quẩn ba cái chuyện linh tinh lạt nhách mà nhật báo lề phải cũng nói tới nhưng làm sao khác, ba chuyện nhỏ đó cứ đeo bám hằng ngày trong óc.

Nghe như nhà thương thí hồi thuộc Pháp dân nghèo không phải đóng một đồng một cắc. Nay, đất nước độc lập, nghèo mà lâm trọng bệnh thì yên tâm chết cho rảnh nợ đời. Nói cho khách quan, cùng với dân số phình to gấp bốn năm lần, bệnh viện thời nay cũng lớn rộng hơn nhiều hồi tiền bán thế kỷ hai mươi và gần đây, dân chúng cũng được an ủi phần nào nếu có tiền mua bảo hiễm. Nhưng quái đản nhất là chuyện phân cấp bệnh viện, thuốc men theo tầng lớp xã hội. (Chắc “nghiên cứu khoa học” thấy vi trùng tấn công tùy theo chức vụ, cấp bậc xã hội nên mới “triển khai” như vậy). Tiện đây, xin kể chuyện nhỏ tạm gọi là vui dây dưa tới thuốc men, y đức. Chú em họ tôi đi khám mắt ở bệnh viện thị xã nọ. Trước khi đi, chú đã nghe người ta nói nhiều chuyện không hay về ông bác sĩ trưởng khoa, chẳng hạn khám qua loa để bệnh nhân đến phòng khám tư của chính y, tại đó, ông bỗng trở thành “y dược sĩ”, tức vừa khám vừa bán thuốc, thuốc thì, giúp thuận tiện cho bệnh nhân, ông bỏ công bóc ra khỏi bao bì hoặc bẻ đôi. Có người kể ngoài chuyên khoa mắt, ông còn chuyên môn viết toa theo lối “chữ bác sĩ”, không ai đọc ra chữ gì, bệnh nhân ra ngoài mua không có, phải trở lại nhà thuốc của bệnh viện, nhân viên ở đó thì rành! Người bệnh nhà quê nọ mang thuốc mua từ bệnh viện quay trở ra nhà thuốc bên ngoài theo lời dặn của cô bán thuốc không đọc được toa; cô thở dài cho bà ta biết thuốc đó rẻ nhất trong các loại chữa mắt, tiệm cô chỉ bán mười nghìn, trong khi người bệnh nọ bị tính gần ba chục nghìn! Người đàn bà quê mùa đứng lặng giây lát rồi thốt lên với giọng “tiếng kêu của tâm hồn”:

- Ối Trời ơi, quân ăn cướp chớ bác sĩ chi lạ rứa Trời!

Lúc chú em tới bệnh viện, đã tám giờ sáng, phòng khám còn vắng, mới chừng năm bảy người ngồi trên ghế đợi. Thấy bà y công đang lui cui chùi rửa với cây giẻ lau và xô nước đen sì, chú em tôi hỏi tìm bác sĩ, bà làm thinh chỉ tay về cuối hành lang. Dưới bóng cây bàng, người đàn ông bận blouse trắng đang chăm chú đọc báo. Chú em tôi tới gần, chưa kịp nói gì, ông ta đã gay gắt bảo:
- Đợi làm vệ sinh phòng chút đi!
Ngay lúc đó, bà lao công thu dọn vật dụng ra khỏi phòng. Chú em tôi lặng lẽ lại ngồi băng ghế chờ. Viên bác sĩ ngẩng lên đưa mắt nhìn quanh rồi cúi xuống lật trang báo tìm bài đọc tiếp. Đọc chừng mười lăm phút, ông ta móc điện thoại ra bắc đầu say sưa trò chuyện một hồi lâu nữa, không một dấu hiệu hứa hẹn chấm dứt. Lúc gần hết kiên nhẫn thì chú em thở phào nhẹ nhõm thấy y cất điện thoại vào túi. Nhưng bi kịch chưa dứt, ông ta lại giở báo ra tìm bài đọc tiếp. Chú em đứng dậy, đi nhanh về phía tay bác sĩ. Thoáng nhìn thấy, chắc cũng hơi chột dạ, y đứng vội dậy:
- Đau cái chi mà nôn nóng hung rứa ông, rài rài* chút không được na?
Chú em đi theo vào phòng, ngồi xuống ghế, không kìm được cơn bất bình:
- Tôi không đau chi hết, cũng không khám nữa, muốn biết tên ông thôi.
- Chi rứa? Để báo cáo công an hả? Cứ tự nhiên!
- Tức cười chưa, không biết tên thì báo cho ma à? Hỏi chơi chớ thị xã bằng cái mũi, ông đặc biệt tiếng tăm, ai chẳng biết tên ông.

Câu chuyện rồi cũng tới tai viên giám đốc nhà thương. Nghe đâu ông ta đã chỉ “giải quyết” đoạn đầu của sự việc bằng cách “nghiêm khắc” khiển trách...bà lao công về tội... làm vệ sinh phòng ốc trong giờ bác sĩ làm việc. Rõ ràng ông này không thuộc bài, chẳng những không chút tôn trọng mà còn ngang nhiên đàn áp người phụ nữ thuộc giai cấp công nhân tiên tiến một cách oan ức.

* * *

Tôi về Hội an thăm má nhằm ngày mưa lụt. Má tôi bị té gãy xương khớp háng gần một năm trước. Người ta dùng dụng cụ giữ yên chân để hai đầu xương gãy tiếp cận nhau hầu có thể lành nhưng bà cụ quyết liệt từ chối, nghĩa là đêm khuya chờ mọi người ngủ quên, cụ lén ngồi dậy - đó là nỗ lực kinh khủng vì hẳn phải đau đớn lắm – không hiểu lấy sức đâu và cách gì khom người tháo tung mọi thứ băng bó vứt xuống gầm giường. Chúng tôi xúm lại thuyết phục, thậm chí đe dọa, cụ làm thinh để cho băng lại nhưng khuya hôm sau lại diễn ra kịch bản cũ. Cả tuần như thế. Chúng tôi chịu thua, để cụ tự đặt chân thoải mái theo ý muốn, miễn chân lành kiểu gì cũng được, tất nhiên, không lành cũng được, chứ biết làm sao.

Ông ngoại tôi được kể là giàu có so với nông thôn ngày trước, có súng săn, xe đạp như tôi đã thuật, chỉ sinh được hai người con gái, má và dì tôi được tiếng đẹp nhất vùng, má có phần sắc sảo hơn dì khiến thiên hạ liên tưởng bảo rằng ông có cặp Kiều. Ông tôi không khỏi ngầm hãnh diện về lời bình phẩm này. Cưới má xong, ba tôi dẫn má xuống ga Trà kiệu, nghe đâu bạn bè công chức của ông nhìn thấy, bảo thằng Diêu về làng cưới được nàng tiên. Được thong thả đâu mấy năm thì xảy ra đại biến cố 1945, bỏ công chức Tây, ba dắt má và anh em tôi trở về làng, giao cho má xoay xở nuôi con, phần ông mang xăc-côt lên đường đi kháng chiến. Hồng nhan đa truân, không kiểu này thì cũng cách khác, dân gian quả đúng. (mà hình như không hồng nhan thì... còn đa truân hơn!). Má tôi lăn lộn với ruộng nương, cấy, gặt, khom lưng quào cỏ bằng tay, móng không mọc được, lá lúa cứa vào cổ trong nắng nung và gió Lào rát mặt, chiều tối nào trở về cũng mang vết máu chảy thành dòng đã khô nâu ở bắp chân bị đỉa cắn. Xong vụ lúa thì trồng dâu nuôi tằm, làm đất khô trồng đậu, trồng mè, ngày trống lên rừng đốn củi...đầu tắt mặt tối không thua người phụ nữ nông dân nào lao khổ nhất làng. Má còn nổi tiếng người bắt cá bộng nhanh nhẹn tài giỏi. Vùng Đại lộc có thứ nông cụ tôi không thấy trong Nam, cái bộng. Đó là thanh gỗ dài hình dáng như máng xối lật úp xuống, đặt ngang, nông phu đứng lên trên điều khiển trâu kéo đi làm tơi đất bùn trước khi cấy mạ. Cá rô cá tràu túa ra hai bên theo dòng nước ruộng đục ngầu, phải tinh mắt và kinh nghiệm mới thấy được gợn nước con cá lóc đi, lấy rổ múc hoặc dùng nơm. Nơm thì phải dừng lại mò bắt lâu lắc nên má tôi dùng rổ, bà bắt giỏi tới mức lúc nào cũng thu hoạch gấp đôi gấp ba đám người bì bõm theo sau cái bộng.

Má học hành, thuở đó, quá lắm thì cũng hết tiểu học là cùng nhưng chuyện đọc sách của bà cũng rất đáng nói. Thời con gái, lúc ba tôi học ở Huế, mỗi lần về nhà, ông đưa sách Tự Lực Văn Đoàn cho má “mượn”, bà đọc gần hết tác phẩm của văn đoàn này trước kháng chiến. Khi tôi lớn, sách vở thất lạc gần hết nhưng may mắn (hay rủi ro?), trong mớ sách long gáy sứt bìa đó, tôi còn đọc được cuốn “Hận Ngày Xanh” do thi sĩ Hoàng Cầm dịch cuốn Graziella của Lamartine bằng một thứ văn xuôi đầy hình ảnh và nhạc điệu như thi ca, giống như ông đã phóng tác chứ không phải dịch. Sau này tôi nghe đâu ông dịch cuốn sách năm mới mười mấy tuổi. Chuyện tình lãng mạn, biệt ly đầy nước mắt đó lay động tâm hồn yếu đuối vớ vẩn của tôi cả một thời mới lớn. Đọc xong bỗng thấy núi sông mây gió trăng sao...gợi buồn quá thể khiến cả ngày mơ mộng lem nhem. Lên trung học, tôi đã phải xa nhà, không nhớ những năm đó má tôi đọc những gì để giải trí nơi quê mùa hẻo lánh đó. Em tôi kể, sau ngày ba mất, ngày đi làm ruộng khuây khỏa, đêm đến, má ra trước hiên nhà ngồi khóc, khi thút thít, khi thành tiếng nghe như lời kể lể nhưng không rõ. Không biết ngoài nỗi tiếc thương, bà có điều gì ân hận trong cư xử hay lời ăn tiếng nói không phải với ba lúc sinh thời khiến nỗi đau càng vò xé hay sao, đến nỗi ba bốn tháng ròng đêm nào cũng nghe tiếng khóc đứt ruột như vậy. Ông bà và em tôi an ủi gì thì chuyện cũng tiếp tục như một thói quen khiến tê xót lòng người. Tình thế buồn thảm quá khiến em tôi nảy ra ý đi mượn sách cho bà đọc may ra quên bớt hiện thực bất hạnh. Em vất vả đội nón lá đi bộ hết làng này tới làng nọ tìm nhà bạn cũ của ba má có sách báo này khác mượn về, má chong đèn đọc, quả thật ngơi dần tiếng khóc não nuột hằng đêm. Bữa nào mượn không được sách, bà thất vọng ra mặt.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bom đạn Mỹ cùng thuốc khai quang hủy diệt sạch trơn làng Non tiên, má và em tôi chạy xuống Hội an tá túc. Cách mạng đến, ông và má trở về làng nhưng ruộng đất bị trưng thu, không sống nổi, phải quay lại phố sống nhờ đồng lương giáo viên của em tôi. Đây là thời “tiến nhanh tiến mạnh” (tiến lảo đảo) khiến ai cũng đói, huống chi thân phận thoát chạy tan tác của nhà tôi. Ở gần đường, em tôi sắm cho má cái tủ con kê bên gốc cây bán kẹo đậu phộng, bánh tráng nướng cùng mấy thứ linh tinh, có cả thuốc lá lẻ. Em tôi mộ đạo Tin Lành, đúng ra thì không được tiếp tay cho tội lỗi, đạo Tin Lành VN coi đơn giản, ít lễ nghi rườm rà như Thiên Chúa Giáo La Mã nhưng ngầm khắt khe gần như thứ Thanh giáo, thuốc lá là xấu, (họ đi trước thời đại đó chớ). Vì túng quẩn quá, em tôi ái ngại chấp nhận, có lẽ đêm đêm cô cầu nguyện xin lỗi Chúa không chừng. Lúc đầu má kiếm được tiền tính ra nhiều hơn lương giáo viên, mọi người mừng rỡ không tin nổi, nhưng rồi mỗi ngày mỗi kém đi. Ngồi ngó ruồi má ngượng nên em tôi, sẵn giữ thư viện trường, bắt đầu đem sách về cho bà đọc. Giai đoạn này không còn mang kiếng lão nữa, mắt bà vẫn trong như mắt mèo, có vẻ sáng hơn mới lạ. Lạ nhất không hề bao giờ than mỏi mắt. Không ngờ được bà đọc xong Chiến Tranh Và Hòa Bình chỉ trong mấy ngày. Thư viện nhỏ, đọc hết tiểu thuyết cổ điển Nga, em tôi lôi về truyện của lớp nhà văn Hiện Thực XHCN, Sông Đông Êm Đềm, Đất Vở Hoang, Thép Đã Tôi, Ruồi Trâu...đọc tuốt luốt. Nghe như bà khoái nhất mấy cuốn truyện của Aimatop. Cứ cúi gằm xuống đọc cả ngày không bao giờ nghe nói mỏi mắt thì hàng bán ế là tự nhiên. Từ bao giờ, người trong xóm gọi má bà già đọc sách. Cứ tưởng Trời cho đôi mắt vô địch như vậy thì khỏi lo gì trắc trở nhưng không, một hôm ngủ dậy, cụ than đau nhức, chảy nước mắt, nhìn xa hình dáng sự vật một hóa hai. Em tôi hoảng kinh dẫn đi khám, bác sĩ không nói rõ thế nào, chỉ cho toa mua thuốc. Phải công nhận BS Việt nam phần nhiều rất ít lời, không hiểu họ “phục vụ” quá nhiệt tình đâm mất sức hay vì lương bổng thù lao, họ không “ba hoa” giải thích quá nhiều như thầy thuốc ngày trước. Một tuần trôi qua không thuyên giảm lại có vẻ nặng hơn, em tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên nghe bà bảo:
- Má mới đọc hết tập một cuốn Oliver Twist, con ráng kiếm cho má tập hai, nhìn gần còn rõ, lỡ mai mốt má bị đui rồi không đọc được.

Chưa kịp tái khám thì tình cờ, em tôi nghe phổ biến phương pháp tập thể dục cho mắt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trên radio, bèn thử áp dụng cho má. Như một phép lạ, chỉ tập nửa tháng là bà khỏi hẳn. Thế là màn đọc sách tái diễn cho đến khi em tôi nói với má không còn sách nào ở thư viện trường thích hợp cho má nữa thì cũng là lúc dẹp luôn trò bán kẹo và thuốc lá lẻ.

Tôi chưa hết ngạc nhiên về sự đổi thay nhanh chóng của tinh thần người ta. Trước khi bị té, cụ vẫn đọc nhật trình, gặp những cảnh báo về sức khỏe, cụ gọi đứa này, kêu đứa khác bảo phải đọc để hiểu nên ăn gì, nên làm, nên tránh cái này cái nọ có lợi có hại cho sức khỏe...Thế mà, vừa bị tai nạn hôm trước, ngay hôm sau đã hoàn toàn suy sụp. Chẳng hạn:
- Dẫn má xuống nhà tắm má đi cầu đi con!
- Má té gãy chân rồi, đi răng được?
- Bậy nà, má té hồi nào, té chỗ mô, gãy chỗ mô chỉ má coi!

Cụ không thể tin mình không bước đi được nữa, nhất định không chịu đi vệ sinh ngay trên giường vì “đi chi chướng rứa”. Cụ bắt đầu lẫn lộn, vừa nói nghe rất hợp lý điều này xong lại toong ngay một câu trật lất không đâu vào đâu. Một buổi chiều ngủ dậy, má hỏi:
- Ông bà ngoại đâu rồi con?
Em tôi nói:
- Ông bà trên thiên đàng nớ.
Má bảo:
- Bậy nà, ông bà chết hết rồi na?

Chúng tôi chuẩn bị cho một ngày cụ quên hết, chắc chẳng còn lâu. Tôi ở xa với vợ con, công việc, chỉ mỗi mình cô em ốm yếu chăm sóc bà. Sự nhọc nhằn rồi cũng sẽ chất nặng bội phần trên vai gầy của cô. Cô bảo sự hy sinh của má nay đáng cho con cháu đền đáp hơn lúc nào. Phải, nhưng tôi, con trai, chỉ lãnh phần nhẹ hều.

Nguyễn Khiêm