Article Index

   KÝ ỨC SƠ SÀI

   KỲ MƯỜI

Thời gian qua, vài người bạn hỏi tôi vì sao suốt tất cả các kỳ KUSS đều trích nhắc thơ Tô Thùy Yên với lòng ưu ái có vẻ sâu nặng. Các bạn đã thắc mắc thì tôi phải trả lời. Nói thẳng ngay đọc thơ Tô Thùy Yên rồi thì đọc thơ ai cũng không còn thấy hay nữa, đây là điều tai hại cả đời tôi không khắc phục được nên đành chịu thua thói xấu đó của chính mình. Thật ra nói cho rõ, cho rạch ròi vì sao mình thích thơ người này rồi đâm ra ngại đọc thơ của ai khác là chuyện khó giải bày. Thích là một chuyện, nói đâu ra đó vì sao mình thích tất phải cắt nghĩa thơ đó ra thì gian nan biết chừng nào, hầu như chuyện bất khả, bởi lẽ chẳng ai có thể giải nghĩa rõ ràng thơ ai được, dù là trong chừng mực tương đối. Nhưng nếu không thể nói gì thì mình chẳng qua chỉ ngụy biện, hoặc tệ hơn, chỉ ngụy thôi chứ có biện gì đâu!

Vậy nên tôi sẽ cố gắng nói đôi điều những cảm nhận của mình về thơ Tô Thùy Yên. Tôi chẳng phải nhà phê bình, sở học vốn nông cạn, kiến thức sơ sài, biện luận chẳng bằng ai, dám bàn về thơ mà lại thơ Tô quân là liều lĩnh. Nhưng đã lỡ. Thôi cũng đành chớ biết làm sao!
Ngày trước đã có lần anh bảo:

Coi như đi quyền trên Mai hoa thung
Nên tôi biến chế hoài những bí tự
Xếp thành những bài thơ tối tăm
Đưa ra ánh sáng trần gian những u ẩn linh hồn

Tôi thích những bài thơ “tối tăm” đó từ ngày biết võ vẽ đọc thơ, mới chết. Thành thử, ở đây, tôi chỉ cốt cố làm sáng tỏ đôi điều nỗi đam mê chủ quan của mình với vài người bạn đã hỏi chứ không có tham vọng gì hơn. Tất nhiên còn có ai thông cảm thì đó là điều vô vàn phước hạnh. Trong dịp phát hành tập Thơ Tuyển ở Mỹ, Tô Thùy Yên có nói: “Một dân tộc, một ngôn ngữ, trong bất cứ thời đại nào, không sản sinh được lấy một thi sĩ tài hoa kiệt xuất, xứng đáng là một thành phần ý thức của thời đại đó, chắc chắn ngôn ngữ đó đang là một ngôn ngữ khô cằn, cứng chết, chắc chắn dân tộc đó đang lâm vào tình trạng báo động của một cơ nguy thoái hóa, tan rã. Sự hấp hối của hồn thơ ở một dân tộc đồng nghĩa với sự hấp hối của lịch sử ở dân tộc đó”.
Thi sĩ “tài hoa, kiệt xuất, xứng đáng là một thành phần ý thức của thời đại” theo tôi, chính là anh, anh là đại diện xứng đáng nhất cho lớp thi nhân của dân tộc ở thế hệ anh. Làm thơ bằng chữ quốc ngữ, trước anh, không ai sánh được, sau anh càng chưa có ai và với bao khốn đốn triền miên của văn học và Việt ngữ trong hơn ba thập niên vừa qua mà ai cũng thấy, hoàn toàn có nguy cơ không bao giờ còn ai nữa. Ước gì tôi chỉ bi quan và hàm hồ. Một người quen nói với tôi rằng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư có bảo người nào chỉ nói trổng không thơ Tô Thùy Yên hay là nói hỗn. Điều này không rõ thực hư nhưng nếu cô nói thế cũng không có gì quá đáng, bởi vì quả thật, thơ anh ở trên chữ hay một trăm lần. Từ những ngày đầu mới đăng báo, tôi đã cảm nhận tài thơ anh trác tuyệt, hồn thơ bát ngát, thi giới thì mênh mông, chủ đề đa dạng và phong phú, nội dung tư tưởng vô cùng súc tích, cấu trúc câu thơ tròn trịa,vững chắc, toàn bài thì gần như bài nào cũng là tác phẩm lớn hoàn chỉnh; chữ nghĩa thì lúc nào cũng tinh diệu và linh diệu, không có từ nào là thừa, là “hà rứa” – chữ của Phan Khôi - xác đáng và mới mẻ tới tận cùng dù rằng tứ thơ đôi lúc gần xa thoảng ý ca dao của muôn đời trước hoặc hơi hám từ Đường thi xa lắc.
Nhiều nhà phê bình đã chỉ ra chủ đề bao trùm toàn bộ thơ ca Tô Thùy Yên là tính chất hư không của cõi sống, sự vô vọng trong tìm kiếm ý nghĩa kiếp nhân sinh, những vấn nạn triền miên về hiện hữu và những bí hiểm của cõi vô hình.Vì vậy, Bùi Vĩnh Phúc nói thơ anh nhằm tả cái “vinh dự lầm than của kiếp người ”. Anh thú nhận mình luôn “Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn” mặc dù vẫn biết: “Trí ta không đủ lực đo lường ”. Đọc thơ anh, không ít lần ta gặp hình ảnh nhọc nhằn của con còng xe cát: Biển đông đã một ngày xe cát…Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui/Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn/Càng nhẹ tênh trên cõi ngậm ngùi. Con còng Tô Thùy Yên mải mê ẩn nhẫn, quanh quẩn kỳ khu xe cát trên cõi ngậm ngùi - thì cũng như Sisyphe của Camus cả đời bị đọa đày, lầm lũi xe hòn đá nặng lên đỉnh núi, chúng ta còn nhớ. Ngoài ra, thơ anh luôn bày tỏ nỗi ám ảnh về thời gian, cái chết, lịch sử (các chế độ chính trị từng cai quản đất nước), sự biến thiên (lẽ đời dâu biển), con người cô đơn, hành nhân thất thểu, chiến tranh tù đày, tuổi thơ mất hút, danh phận hẩm hiu, thời thanh xuân khốn đốn vì chinh chiến…
Khó lòng kể đủ các chủ đề, chủ điểm đó cũng như dẫn chứng minh bạch, chỉ cần chịu khó đọc anh ta sẽ dễ dàng nhận ra. Có điều ngạc nhiên, dường như thiếu vắng chủ đề tình yêu trong thơ anh.
Nhưng trước khi nói chuyện tình yêu, ta thử nhớ lại chuyện làm thơ của anh. Rất sớm sủa, anh có vẻ xem thường hay ít ra cũng không hào hứng mấy chuyện văn nghệ, chuyện thơ ca. Phải chăng thơ phú trên đất nước thời anh sống là chuyện phù phiếm, không chút gì xứng đáng?

Tôi muốn đi khắp nơi
Vì chẳng định đi đâu
Tôi làm thơ
Vì chẳng biết làm gì
Ôi giá gặp thời
Được làm thơ bằng những từ ngữ êm đềm
Gần im lặng nhất
Mà bây giờ cũng chưa phải lúc
Được làm thơ

Một lần khác, anh tỏ bày:
-Tôi định một ngày gần đây sẽ thôi làm văn nghệ tôn giáo của những anh hùng bất lực Về dạy trường làng già có tiền lương hưu trí chết có quan tài nước mắt vợ con
Và anh làm thật. Bẵng đi thời gian lâu không thấy thơ anh nữa. Mãi sau này, anh vẫn giữ giọng đó trong bài Anh Hùng Tận:

Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn
Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng
Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương

Hai câu sau sao nghe khinh bạc rẻ rúng thi ca chữ nghĩa quá chừng. Tôi hơi dài dòng để thấy rằng làm thơ thôi anh đã ngại thế huống hồ là mang tiếng làm thơ tình. Lúc bấy giờ, Sài Gòn lưu truyền một giai thoại. Nhà thơ TTT nhận xét về thơ của một tác giả rất nổi tiếng trong lãnh vực thơ tình, rằng thơ ông này chỉ là thứ thơ kẹo mứt (confiserie poétique). Lời nói tới tai tác giả, ông giận dữ, không nhìn mặt TTT, nghe đâu tới suốt đời.
Ít nhất là cho tới 1975, Tô Thùy Yên chưa bao giờ viết trọn một bài nào dành cho tình yêu. Bài thơ có nhan đề “Chuyện Tình Người Lỡ Vận” thật ra ta có thể nói đó chỉ là “Chuyện Người Lỡ Vận” vì rõ ra chẳng thấy tình đâu. Yêu gì mà ngay trong khổ thơ đầu anh đã bộc bạch “Ta làm trò tung hứng trái tim chai ” và tiếp đó, bình thản nói tới thứ hạnh phúc tình ái phù du:

Biết đã trễ nên không thèm hối hả
Cuộc tình này như chút đỉnh khoan dung
Của định mệnh cũng có lần nới thả
Hạnh phúc này như sóng rã trên sông

Anh tính toán thiệt hơn, giọng rẻ rúng:

Thà làm kẻ si tình hát điên loạn
Hơn làm người thành đạt thời nhiễu nhương

Bài thơ kết bằng câu: “Nghề ngông cuồng tập mãi cũng thành quen ” chứng tỏ tình ở đây chỉ là cái cớ để tay cuồng sĩ lỗi lạc gửi vào lời oán trách thân thế dở dang cùng tháng ngày nhiễu nhương, ly loạn.(Khổ thơ thứ tư có câu “Chí lớn đành đốn sập đốt ra than ” khiến nhớ ca dao “Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than”). Cũng có một đoạn thơ khá dài trong bài Chiều Trên Phá Tam Giang nhắc tới tình yêu, nhưng phần lớn nói về nỗi nhớ của người nữ, lặp đi lặp lại nhiều lần câu “Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi ”, dường như nuối tuổi hai mươi nhiều hơn thì phải. Và kết đoạn đó như sau:

Thấy tình yêu như vận hội tàn đời
Để xé mình khỏi ác mộng
Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân
Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại!

Đúng ra, không phải bao giờ anh cũng nói tới tình yêu cùng một giọng như thế. Bài Vườn Hạ xây dựng trên chủ đề hoài niệm tuổi thơ - cánh diều đã băng mù khơi tuyệt tích - với tất cả bồi hồi, dịu dàng, thơ mộng, (chắc TTY không ưa chữ này!) khổ chót là những câu thơ tình đẹp nhất, đau đớn nhất (mà tôi đã có dịp trích trong kỳ trước) “Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi ”, sao vậy? Phải chăng nỗi nhớ vẫn mãi đọa đày và những chấn thương trong tâm tưởng ngày nào cho tới tuổi già xiêu đã chẳng bao giờ lành lặn? “… cho đáng kiếp chờ ” là một lời rủa như nói lẫy, hờn dỗi, nghĩa cay đắng hơn nỗi đợi trong ca dao “Chờ em biết tới bao giờ/Vạc kêu sườn núi trăng mờ đầu non” nghe nhẹ nhàng đằm thắm hơn hẳn. Hình ảnh và từ ngữ hai câu cuối: tuổi già, gom lại, thương tưởng, cuối vườn chiều, mót củi rơi…toàn là từ và hình ảnh của tàn tạ, phôi pha, buồn thương bất tận. Ngoài ra, trong những bài thơ đậm chất triết lý, nặng vẻ siêu hình, ta vẫn bất ngờ gặp những đoạn, những câu thơ làm sao không hiểu chính là thơ tình đích thực hoặc ít nhất, cũng khiến ta se lòng vì một thứ tình ý mông lung, bâng khuâng và ngậm ngùi, rất khó định hình:

Khép mắt cho hồn bay dịu vợi
Mà yêu đến khóc, đến u mê
Để khi mở mắt ta nhìn thấy
Cả cuộc đời ta có đáng chi

Ôi những con đường đến tự đâu
Một lần gặp gỡ ngã tư nào
Rồi trong vô hạn chia lìa miết
Có cuốn theo mình bụi của nhau

Suốt bến sông này hoa trắng nở
Cỏ cây lưu gió khóc mơ màng…
Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau?
Nước xưa về tận chốn giang đầu
Thăm hỏi con chim màu sặc sỡ
Lời ca u uất giấu nơi đâu?

Chiều chiều, lớp lớp mây tiền sử
Quần tụ bên trời gợi nhớ nhung
Ta gửi mỗi ngày một sợi tóc
Cầu may cho trận gió kinh thiên
Có ai bên cõi vô cùng tận
Bắt gặp lòng ta bay đảo điên

Hỡi người cố cựu trong trời đất
Khi nước tràn sông có nén tâm?

Thơ đượm màu sắc siêu hình, thần bí, trí thức, chủ đề cao siêu này nọ cũng chẳng là gì nếu thủ pháp nghệ thuật không khiến người ta nể sợ tài năng quan sát, cấu tứ, phối chữ cùng phong cách diễn đạt, tức thi pháp thơ – theo kiểu nói mới - của tác giả. Tỉ như đôi mắt nạc người phàm ta chỉ thấy đá chỉ là đá, thì cát là cát, nước là nước, bùn là bùn nhưng TTY lại thấy khác, cách thấy khác của anh biến những ý đó thành TỨ THƠ độc đáo: cát hôn mê, nước miệt mài trôi, bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui, Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay!… Những nhóm từ cùng kiểu như thế xuất hiện nhan nhản trong thơ anh với tần số rất cao, rất gợi tả, là một sáng tạo chỉ có một, chưa có người thứ hai làm được trong thi ca Việt ngữ. Những đoản ngữ này, nhiều nhất là ngữ danh từ, Vd: Châu thổ mang mang, đảo chếnh choáng, bờ bãi hỗn mang, cát hôn mê, giấc suông đêm rỗng, đống lửa man rợ, cát loạn muôn trùng, nắng kim khí chảy, miếu cỏ lạnh ma hoang, làn nước biển xanh lơ mộng… kế đến là ngữ động từ, Vd: vây trắng bốn bề, miên man thổi, miệt mài trôi, độc thoại lời kinh ánh xanh… và ngữ tính từ: thăm thẳm sầu, lạ sóng nước, tịch mịch mùi, buồn ngây chân tay, hiu hắt nỗi không tên, phất phơ chéo áo đường thiên cổ
Đành rằng những loại đoản ngữ thì ngôn ngữ nào lại không có và cũng đâu ít người sử dụng chúng trong tiếng Việt, nhưng ở đây, chỗ khác và hơn nhau là do cách kết hợp sáng tạo, chọn từ tinh tế, bất ngờ, có khi cả ba nhóm từ trên hòa quyện nhau trong một khối khiến tứ thơ thành tân kỳ, ngôn từ trở nên mới mẻ, cô đọng, tối ưu. Ta cũng thấy động từ trong thơ anh hiếm khi đứng một mình, hình như bao giờ anh cũng khổ công tìm kiếm một tính từ đắc địa nhất đi theo nó, nếu không thì ít nhất cũng một động từ khác để bổ nghĩa. Ví dụ: Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực/Con chim chèo bẻo hót lanh chanh… Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất/ Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa, Hòn ngói lia bay bay mặt nước, Dòng sông tới biển nức tuôn, tuôn, Mưa ôm choàng đất khóc thương mong… Những câu đảo ngữ gọn gàng, chắc nịch làm biến đổi nhạc điệu câu thơ cách tinh vi: Lờn rờn bóng lá đong đưa nắng/Thảm thiết dây leo quấn quít cây, Mùa đông bắc gió miên man thổi…
Ta còn thấy không vật thể nào là vô tri trong thơ TTY, gần như tuyệt nhiên không, điều này liên hệ đến chuyện vận dụng triệt để các phép tu từ tỉ dụ, nhân hóa, tượng trưng… của anh. Chẳng hạn, nói đến đá – phải chăng TTY bị ám ảnh đá - có thể kể ra: Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay, Thức dậy đi nào gỗ đá ơi, Ôi đá địa cầu vần vụ mộng, Đá chẳng đá nào lên tiếng với, Đá bạc rền tan nước mắt hồng, đá nổi lau nhau, thân đá địa đầu mù, Đá ở lại/Thiên thu mòn mỏi giấc phiêu bồng, Ôi những thân đá tiên tri già hôn mê vạn đại/Đứng rải/Đường ta đi, Ta cũng khóc một chiều nào/Ôm chầm lấy đá, Đá cũng làm thinh không có chuyện…Đặc biệt bài Đá Mộng:

Nhìn đá, ta định chừng đá ngủ.
Phải chăng đá giú mộng trong lòng?
Tại đây, đá sống lâu đời nhất,
Đá rõ điều ta muốn rõ không?

Và đây là cát: Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn, cát hôn mê, Cát trôi nhăn nhíu, Cát bụi nặng tình liên đới cũ, Gió cát không nguôi khóc dãi dầu… Dường như thiên nhiên thảy đều có ý thức và linh hồn, như cơn mưa trong bài Mùa Hạn:

Mưa ôm choàng đất khóc thương mong..
Mưa báo tin vui chạy sáng đồng..
Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở..
Mưa mừng trẩy hội nước trăm sông.

Vạn vật trong thơ anh bao giờ cũng trong trạng thái sống và động và đầy ý thức: Thủy triều sôi, mây xôn xao, Nước xưa về tận chốn giang đầu, Dòng sông u hiển trôi vô lượng, Dòng sông hiền triết chảy vô tâm, Nước mây buồn bã chợt quên trôi, Thời gian mất trí trắng vô âm, Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ, Chân mây rách đỏ vết thương dài, Trời đất bào thai cựa cựa nhanh, Đóa hoa buông cánh khi tàn hương, Cửa não nề, bản lề khô kẽo kẹt hôn mê, mặt trời thì xao xuyến mọc và mặt trăng thì chỉ mọc riêng cho anh “Mọc lại cho ta thuở xế tàn” rồi mai kia “Trên mồ ta trăng phải lang thang”… Khó mà quên những con vật luôn hiện diện, chim, cò, sáo… bay, kêu suốt trong thơ TTY: Chim đã bay quanh từ vạn cổ/Gió thật xưa, mây thật già nua, Ta về như bóng chim qua trễ, Di điểu qua sông xẽ luống sầu, Núi xa, chim giục giã hoàng hôn, Níu cánh chim bằng qua biển gió, Con chim nhào chết khô trên cửa, Con chim động giấc gào cô đơn, Thấy nhành ớt động bóng chim quen, Con chim lạc bạn kêu trời rộng, Con chim thần thoại mắt khoen sâu/Giật mình như đã ngàn năm ngủ/Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào, Nửa khuya một tiếng chim ai oán/Ghé hỏi thăm thần trí bỏ quên, Con chim nào đậu khóc suốt ba sinh, Ác điểu ngày đêm gào xáo xác, Con chim bói cá trong tàn tối/Soi vĩnh hằng xanh rợn mặt hồ, Khắc khoải chim kêu ngày tận tuyệt/ Ai trầm luân đó có về qua, Khắc khoải chim kêu đời khổ nạn rồi sau mới đến Khắc khoải chim kêu mùa xóa giải. Cò: Chiều mập mờ xiêu lạc dáng cò, Con cò lặng ngẩn lắng hơi thu…. Gà: Gà lay tỉnh một mé rừng hư định… Chó: Con chó tung tăng giỡn bóng mình, Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa… Chuồn chuồn: Chuồn chuồn vui đậu trên nhành lúa/Để lại bay đi lúc kịp buồn/Con chuồn chuồn đó thong dong quá/Mùa hết còn bay dõi dõi theo… Dế: Đây rồi chú dế giang hồ ấy/Vẫn hót say sưa dưới cỏ buồn, Đêm tối im ru lời thủ thỉ/Bên hè có tiếng dế ca ran… Con cá lia thia của TTY luôn bị đá bại: Cảm thương con cá thia lia bại/Có sót huy hoàng cũng xếp vi…
Nghệ thuật thơ TTY xây dựng cũng không ngoài mấy phép miêu tả lớn của văn chương nhân loại như tỉ dụ, nhân hóa, tượng trưng… Ai cũng biết so sánh và nhất là nhân hóa rất dễ rơi vào chỗ tầm thường dễ dãi, nhạt nhẽo. Nhưng tôi chưa thấy anh một lần rơi vào cái bẫy dễ dãi đó. Sống trong một thời bế tắt, bất lực và vô vọng, anh viết:

Tôi cam tâm làm thằng thất chí
Đóng cửa nằm nhà
Căn nhà không có ghế bàn như ngục thất
Những bức tường như những tấm gương soi

Thật không thể có cách nào khác tả nỗi dằn vặt nội tâm kín đáo mà lại cụ thể hơn, xác thực hơn được. Ai cũng thấy đất nước chỉ có một con đường sắt độc đạo nhưng mấy ai nhìn ra “con đường sắt dài xương sống quê hương”, cũng như thay vì nói xứ sở khô cằn, sỏi đá thì lại bảo những bờ cát thau, những trái núi chì. Thử ghi nhận cách so sánh độc đáo trong khổ thơ tả nắng trên đảo Trường Sa:

Ngày, ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sang vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Và đây đó mấy kiểu so sánh rất lạ bắt nguồn từ những quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phi thường: Cô tịch bưng ồn như máu tuôn, Ta ngó thấy thùy dương gãy rũ/Từng cây như nỗi bất an già, Ta ngó thấy rào chà cản nước/Từng hàng như nổ lực lao đao, Con đường đáo nhậm xa như nhớ (Hình như Nhất Linh cũng có lần tả đóm lửa trong chiều muộn trên cánh đồng như nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần, hay nhưng không mới bằng).Tài tình nhất là phối hợp nhuần nhuyễn các phép tu từ ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng… để tạo ảnh tượng thi ca, mới mẻ và mạnh mẽ: Xứ sở những cây dừa phù thủy xõa tóc hú cuồng phong, Chân mây rách đỏ vết thương dài, Hừng đông như một làn da phỏng, Mùa hè cọ xát điên kim loại, Lượn sóng trên ghềnh nhọn rách tơi… Thử đọc những câu thơ viết theo phép tỉ dụ điển hình này ta mới thấy tài năng cấu tứ và khổ công kiếm chữ tạo hình của tác giả:

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên

Ta về như nước tào khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta

Tôi đã chỉ sơ lược cố gắng lắp bắp bằng thứ ngôn ngữ nghèo nàn, diễn ý lủng củng, thiếu tính chuyên nghiệp và chẳng có gì uyên bác nên chỉ nói được phần nhỏ lòng ngưỡng mộ của mình đối với thơ Tô Thùy Yên.
Lê Thị Huệ từng nhận xét: “Người đàn ông biết những chữ ông viết xuống là những tạ canh dưỡng sinh. Chúng là những con chữ nặng nghìn tạ ơn nghĩa nhân gian trổ mã ra cánh đồng và bàn viết dành riêng cho ông… Quỷ có thể xướng thi. Thượng đế có thể xóa tất cả ván cờ và làm lại. Nhưng người đàn ông thi sĩ lủng lơ viết xuống tuyên bố là mình hiện hữu… Tô Thùy Yên biết ông là một thi sĩ sống và làm được những điều mà bọn âm binh quỷ sứ cùng Im Lặng Lớn kia không làm được… Thơ Tô Thùy Yên cưu mang được sự vĩnh cửu của thi ca… Ông là một tay chơi chữ cừ khôi. Một thi sĩ xào chữ tuyêt vời đã để lại cho đời những câu thơ lừng lẫy”.
Bùi Giáng, giai đoạn dài trước khi qua đời, rõ ràng không tin gì vào chữ nghĩa nữa. Ngôn ngữ Việt hiện đại, nói như Nguyễn Khải, dùng để che đậy, nói dối chứ không phải để giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng che đậy. Bùi Giáng cũng thấy ngôn từ bất lực, chữ không còn nghĩa hoặc nghĩa ngược nên coi như vô phương dụng ngữ, giống như giận cá chém thớt, ông bắt đầu đùa giỡn, thơ tá lả đụng đâu làm đó, đụng đâu tặng đó, chữ nghĩa cố tình dễ dãi hoặc lung tung, ông bỡn cợt thi ca, ngôn ngữ cho tới ngày chết.
Tô Thùy Yên, dù sao, không vậy. Trong bài nói tôi có nhắc trên kia, anh tin tưởng: “…Một dân tộc muốn duy trì bảo vệ hữu hiệu chính mạng sống của mình, đầu tiên phải triệt để duy trì bảo vệ một thứ thiết thân duy nhất không thể bị tước đoạt, bị mất mát, đó là ngôn ngữ của mình. Một dân tộc có thể tạm thời mất tất cả sông núi của mình, mất tất cả những gì mình kiến tạo, nhưng chẳng bao giờ được để mất ngôn ngữ của mình. Do đó, hầu hết những gì mà dân tộc ta chắc chắn còn có thể lưu truyền được cho hậu thế đều mang tính chất khẩu truyền , qua phương tiện ngôn ngữ, được bảo toàn đời đời trong ký ức của tập thể. Và thơ vốn là phần tinh hoa tuyệt vời nhất, là sự thăng hoa hồn nhiên nhất của ngôn ngữ một dân tộc. Cũng bởi thơ vận hành sống chết với ngôn ngữ nên thơ là hình thái nghệ thuật đầu tiên của con người khi con người chưa có gì cả trong tay, cũng như thơ chắc chắn sẽ là hình thái nghệ thuật cuối cùng khi con người không còn gì nữa trong tay… Với ngôn ngữ, thơ chính là nơi giữ gìn bất khả xâm phạm cái hồn mộng chung trường cửu của một dân tộc, và qua đặc thù của từng thời đại, thơ làm sinh hiện hiển linh cái hồn mộng chung đó trong tâm khảm của mỗi con người mãi còn chan chứa bao nhiêu là tình tự thiết tha thâm sâu nguồn cội. Với ngôn ngữ, thơ là đống lửa ấm cúng sum vầy của một dân tộc không khứng chịu chia lìa, không khứng chịu thất tán. Với ngôn ngữ, thơ đích thực là quê hương chắc chắn không xa rời, không mất mát. Với ngôn ngữ, thơ trợ giúp chúng ta được còn là một dân tộc xứng đáng, được còn là con người xứng đáng.”
Tôi tin rằng, qua thơ của mình, Tô Thuỳ Yên đã cứu tiếng Việt. Ai cũng rõ văn học chúng ta, ngôn ngữ chúng ta đang trong một thời đốn mạt kéo dài hiếm thấy trong lịch sử. Đọc thơ anh để còn nuôi một niềm tin vào chữ nghĩa của tổ tiên và hồn thơ của dân tộc. Riêng tôi, thơ anh đã an ủi tôi khi buồn bã, nâng đỡ tôi vui sống tuổi xế chiều.

Nguyễn Khiêm